PHÒNG GIÁO DỤC ĐÀO TẠO – TPBL

TRƯỜNG TIỂU HỌC TRẦN ĐẠI NGHĨA

 

CHUYÊN ĐỀ

TỔ CHỨC DẠY HỌC PHÂN HÓA        MÔN TOÁN 5

CHO LỚP CÓ NHIỀU ĐỐI TƯỢNG HỌC SINH

Người báo cáo: Lê Xuân Hùng

Đơn vị : Trường Tiểu học Trần Đại Nghĩa

Thời gian thực hiện: ngày 27/ 10 /2018

 

PHẦN A:  ĐẶT VẤN ĐỀ

 * LÍ DO CHỌN CHUYÊN ĐỀ

Như chúng ta đã biết giáo dục phổ thông nước ta đã và đang thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, từ chỗ quan tâm tới việc học sinh học được gì, đến chỗ quan tâm tới việc học sinh học được cái gì qua việc học. Trước bối cảnh đó việc dạy học và kiểm tra, đánh giá theo theo định hướng phát triển năng lực của người học là cần thiết.

 Quan điểm này đã được Sở Giáo dục và Đào tạo Bạc Liêu chỉ đạo toàn ngành tổ chức dạy học phân hóa theo năng lực học tập của học sinh từ năm học 2013 – 2014. Đặc biệt năm học 2018-2019 này Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Bạc Liêu tiếp tục chỉ đạo toàn ngành tổ chức dạy học phân hóa chia lớp theo năng lực và nhóm năng lực học tập của học sinh đối với tất cả các trường tiểu học trong tỉnh. Đây cũng là một vấn đề đang được dư luận xã hội đặc biệt quan tâm.

Từ thực tế giảng dạy chúng tôi thấy rằng trong giờ dạy của giáo viên sự sáng tạo trong việc đổi mới phương pháp dạy học phát huy tính tích cực, tự lực của học sinh chưa sâu. Dạy học vẫn còn nặng về truyền thụ kiến thức. Việc rèn luyện năng lực cho học sinh chưa được quan tâm sâu, chưa thật sự phát huy tính sáng tạo của học sinh; hoạt động kiểm tra, đánh giá chưa thực sự khách quan, chính xác, chưa chú trọng đánh giá quá trình sáng tạo của học sinh. Tất cả những điều đó dẫn tới học sinh học thụ động, nhàm chán hoặc lúng túng khi giải quyết các tình huống trong thực tiễn.

Với những lí do trên, chúng tôi thấy hình thức dạy học phân hóa có tính khả thi rất cao trong việc thực hiện tốt mục tiêu giáo dục của ngành. Qua kết quả hơn bốn năm thực hiện, chúng tôi cũng đã gặt hái không ít thành công.Và cũng chính vì vậy, hôm nay tổ chuyên môn chúng tôi xin mạnh dạn trình bày kinh nghiệm của mình về tổ chức dạy học phân hóa cho lớp có nhiều đối tượng học sinh.

 

PHẦN B: NỘI DUNG

I. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ

          1. Thuận lợi

- Nhà trường luôn tạo điều kiện thuận lợi về cơ sở vật chất cũng như tài liệu tham khảo, trang thiết bị phục vụ và đồ dùng học tập cho cả giáo viênhọc sinh.

- Giáo viên nhiệt tình, tận tâm với nghề, có tâm huyết dạy học phát huy năng lực học tập của học sinh.

- Là cơ hội để người giáo viên phát huy hơn nữa về năng lực chuyên môn của bản thân.

- Giữa học sinh luôn có sự cạnh tranh tích cực trong học tập, từ đó sẽ dễ dàng phát huy được năng lực, sở trường học tập của cá nhân.

- Phần đông cha mẹ học sinh có quan tâm đến việc học của con, luôn tạo điều kiện cho các em trong học tập.

          2. Khó khăn

- Mỗi khối chỉ có 1-2 lớp nên việc phân hóa theo lớp năng lực khó thực hiện, đặc biệt tại điểm ấp chỉ có 1 lớp nên trong lớp có nhiều đối tượng HS.

- Trình độ của học sinh trong lớp chưa đồng đều.

- Trong thời gian ngắn GV phải dạy ít nhất 3 trình độ nên chất lượng chưa cao, HS được luyện tập ít hơn.

- Giáo viên phải tốn nhiều thời gian cho sự chuẩn bị nội dung bài dạy.

          - Kế hoạch dạy học của giáo viên phải chi tiết cho từng nhóm đối tượng, vì thế giáo viên sẽ vất vả hơn khi lập kế hoạch dạy học. Đôi khi giáo viên còn lúng túng trong việc chuẩn bị kế hoạch bài dạy theo định hướng phân hóa.

          - Giáo viên còn lúng túng trong việc vận dụng phương pháp dạy học cho từng đối tượng học sinh. Nếu quan tâm nhiều đến nhóm học sinh trung bình, yếu thì không đủ thời gian định hướng cho các nhóm khá, giỏi phát huy năng lực của bản thân, vô tình làm cho các em nhàm chán trong học tập và ngược lại.

          - Thực tế trong cùng một lớp học, trình độ học sinh chưa thật cân bằng, nên việc ôn tập kiến thức cũ cho HS trung bình yếu và cung cấp kiến thức nâng cao cho HS khá, giỏi cũng như việc sử dụng biện pháp dạy học phân hóa của giáo viên cũng gặp nhiều khó khăn.

          - Một vài học sinh có xuất hiện những biểu lộ không tự tin vì thấy mình chưa bằng bạn.

II. NỘI DUNG DẠY PHÂN HÓA

          1. Lấy trình độ chung của học sinh trong lớp làm nền tảng

- Trong dạy học phân hóa, giáo viên phải biết lấy trình độ phát triển chung và điều kiện chung của học sinh trong lớp làm nền tảng hướng vào những yêu cầu cơ bản về chuẩn kiến thức kỹ năng để điều chỉnh nội dung dạy học cho phù hợp. Giáo viên lựa chọn nội dung và phương pháp dạy học phù hợp trình độ và điều kiện chung của lớp. Có thể lược bớt  những nội dung chưa sát thực, chưa phù hợp với yêu cầu cơ bản đặt ra hoặc có thể phải bổ sung những nội dung cần thiết để phát triển tư duy cho học sinh.

- Dạy học phân hóa đảm bảo thực hiện tốt mục tiêu dạy học, đồng thời khuyến khích phát triển tối đa khả năng của từng cá nhân học sinh. Xuất phát từ thực tiễn có sự khác nhau về trình độ nhận thức của học sinh trong cùng một nhóm đối tượng HS trên lớp.

- Dạy học phân hóa tổ chức được các hoạt động đa dạng và phong phú giúp học sinh lĩnh hội tri thức và hình thành kỹ năng, kỹ xảo bằng cách cho các em tham gia vào các hoạt động vừa sức của mình để tự tìm tòi khám phá… dưới sự hướng dẫn của giáo viên. Dạy học phân hóa  là cách tốt nhất để giáo viên tổ chức cho học sinh hoạt động nhằm phát triển khả năng tự học.

          2. Đối với học sinh trung bình, yếu

Trong dạy học phân hóa giáo viên cần sử dụng các biện pháp để đưa những học sinh đó có đủ khả năng đạt được những yêu cầu về chuẩn kiến thức kỹ năng.Đối với những học sinh này, cần phải hạ thấp yêu cầu so với học sinh khá, giỏi. Giáo viên cần kèm riêng từng cá nhân để các em có thể theo kịp trình độ chung của học sinh cả lớp.

Ví dụ: Khi yêu cầu học sinh yếu, kém trong lớp giải các bài toán có văn, nếu học sinh hạn chế về cách đặt lời giải thì giáo viên cần gợi ý trực tiếp với riêng cá nhân học sinh đó về cách đặt lời giải hoặc có thể thiết kế riêng phiếu bài tập có in sẵn câu lời giải, yêu cầu học sinh chỉ điền phép tính dưới lời giải.

          3. Đối với học sinh khá, giỏi

Trong dạy học phân hóa, một yêu cầu rất quan trọng đối với giáo viên là cần phải bổ sung những kiến thức nâng cao cho học sinh khá, giỏi bằng những dạng bài tập mang tính phát triển tư duy. Đối với những học sinh này, ngoài việc đạt được các yêu cầu về chuẩn kiến thức kỹ năng còn phải vận dụng những kiến thức đã học vào việc giải toán nâng cao. Các dạng bài tập bổ sung cần đảm bảo yêu cầu sát với chuẩn kiến thức kỹ năng và vừa sức học sinh.

III. HÌNH THỨC TỔ CHỨC DẠY HỌC PHÂN HÓA

          1. Phân hóa giờ học theo học lực

Căn cứ vào trình độ học lực có thực của người học để có những tác động sư phạm phù hợp với người học. Dựa trên trình độ giỏi khá, trung bình, yếu mà giáo viên giao cho học sinh những nhiệm vụ tương ứng.

2. Phân hóa giờ học theo động cơ, lợi ích học tập của học sinh

Với nhóm học sinh có nhu cầu tìm tòi, hiểu biết cao cần xác định nhiệm vụ học tập cao hơn và đưa thêm nhiều nội dung, tài liệu học tập cho học sinh tự học. Với nhóm học sinh có nhu cầu học tập không cao thì việc phân hóa dạy học phải chú ý đến nhiệm vụ, nội dung cơ bản và bổ sung những vấn đề thực tiễn giúp người học hào hứng học tập.

3. Phân hóa trong dạy học hợp tác theo nhóm

Chia học sinh theo nhóm cùng trình độ, không nên gọi tên nhóm là: giỏi-khá-  trung bình- yếu, tránh sự mặc cảm trong học sinh (có thể đặt tên nhóm theo màu sắc hoặc loài hoa…). Với nhóm học sinh khá giỏi, nên giao cho các em nhiệm vụ khó khăn hơn, đòi hỏi tư duy, tính tò mò, phát hiện; với nhóm học sinh trung bình yếu thì cần có sự giúp đỡ, chỉ bảo cụ thể của giáo viên và chỉ nên giao cho các em những nhiệm vụ cụ thể mang tính trực quan, ít đòi hỏi tư duy, kèm theo là những câu hỏi gợi mở.

 

IV. BIỆN PHÁP TỔ CHỨC DẠY HỌC PHÂN HÓA

          1. Biện pháp chung

- Đổi mới soạn giảng, tích cực sử dụng thiết bị dạy học, ứng dụng công nghệ thông tin hợp lí.

- Phân nhóm học sinh cho phù hợp. Dạy học phải có phân hóa.

- Dạy học thực hành, dạy học gắn với thực tế, liên hệ với các môn học khác, với kiến thức cuộc sống, kiến thức xã hội.

- Xây dựng giờ học thân thiện, học sinh tích cực, giáo viên có kiến thức vững vàng, có kĩ năng sư phạm, có tác phong, cử chỉ, ngôn ngữ thân thiện, quan tâm giúp đỡ học sinh trong giờ học.

- Khuyến khích học sinh tích cực học tập, hỏi bài, chấp nhận ý kiến trái chiều của học sinh sau đó tìm hướng giải quyết.

- Đổi mới kiểm tra, nhận xét, đánh giá học sinh theo nguyên tắc “ Không chê - Khẳng định - Hỏi lại - Khuyến nghị”

- Hướng dẫn học sinh ôn tập kiến thức cũ, cách học công thức, học kiến thức mới thoát li cách học máy móc, học vẹt.

- Thường xuyên gặp gỡ phụ huynh để trao đổi, thống nhất về biện pháp dạy học cho con em họ.

2. Biện pháp cụ thể

2.1 Đối với giáo viên

a)Tìm hiểu khả năng nhận thức của học sinh

  Sự hiểu biết của giáo viên về từng học sinh là một điều kiện cần để đảm bảo hiệu quả của quá trình dạy học phân hóa. Vì vậy,giáo viên cần hiểu rõ về học sinh mình, đặc biệt là về năng lực học tập, nhu cầu và hứng thú học tập của từng học sinh.  Sau thời gian nhận lớp (Khoảng sau 2 tuần ôn tập đầu năm), khi đã hoàn thành những điều cần biết về học sinh như lí lịch, hoàn cảnh,... GV cần tiến hành làm các công việc sau:

- Tham khảo kết quả năm học trước của học sinh.

- Quan sát biểu hiện của từng cá nhân trong quá trình học tập, ghi nhận vào sổ tay chủ nhiệm.

- Tự ra một đề cho học sinh làm bài kiểm tra 2 môn Tiếng Việt, Toán theo bốn mức độ nhằm khảo sát học lực, phát hiện năng khiếu của học sinh.

         b) Phân loại đối tượng học sinh

- Dựa trên kết quả thông tin thu thập, GV chia học sinh thành các nhóm đối tượng như:

 + Nhóm học sinh có năng lực trung bình, yếu:Các em có khả năng nhận thức chậm; khả năng hoàn thành nhiệm vụ môn học còn khó khăn do hổng kiến thức hoặc nghỉ hè quên kiến thức cơ bản.

 + Nhóm học sinhnăng lực khá, giỏi: Các em có khả năng nhận thức nhanh; có kiến thức, kĩ năng, tư duy vượt trội so với học sinh khác; có khả năng hoàn thành nhiệm vụ môn học một cách dễ dàng và có khả năng tự học cao, biết sáng tạo trong học tập.

 + Nhóm học sinh có năng khiếu Toán.

c) Soạn câu hỏi và bài tập phân hóa

          Việc soạn và sử dụng câu hỏi đạt hiệu quả cho từng tiết học và tạo được một thách thức mặt trí tuệ của học sinh, cũng có thể giúp học sinh đạt được thành công trong học tập. Xây dựng được câu hỏi và bài tập càng nhiều càng tốt, sau đó lựa chọn câu hỏi và bài tập phù hợp để đưa vào bài giảng phù hợp với từng đối tượng học sinh.

- Tăng số lượng và bài tập yêu cầu sự nỗ lực tư duy đối với HS khá, giỏi. Tăng câu hỏi nhỏ cho học sinh yếu. Các câu hỏi và bài tập được nêu dưới những hình thức khác nhau, tránh lặp đi lặp lại làm cho học sinh nhàm chán, không hứng thú học, không thích suy nghĩ.

d) Phân hóa lúc tiến hành bài mới

          Thường dùng khi cần có sự phân hóa về mức độ khó, dễ của nội dung bài học, bài tập cho từng loại đối tượng.

          Ta thường chia thành 4 nhóm: Giỏi, Khá, TB, yếu.

Ví dụ: Khi dạy bài : “ Ôn tập và bổ sung về giải Toán-SGK toán 5 trang 18”. Thực tế dạng toán này là hai dạng toán học sinh đã được học ở lớp 3: Bài toán rút về đơn vị và bài toán gấp một số lên nhiều lần (Giải theo cách thứ nhất) và bài toán về tỷ số ở lớp 4 ( giải theo cách thứ hai).

          Giáo viên thực hiện như sau: Cho học sinh đọc đề, cho cả lớp tự tóm tắt đề.

          - Với nhóm yếu và trung bình GV yêu cầu cụ thể hơn: Đọc đề hai lần – xác định cái đã cho, cái phải tìm. Sau đó tôi hướng dẫn học sinh suy nghĩ :Ô tô đi trong mấy giờ và đi được bao nhiêu km? Bài toán hỏi gì?Yêu cầu tóm tắt đề toán.

          - Nhìn vào tóm tắt, để tìm  4 giờ đi được bao nhiêu ki-lô-mét em phải biết gì? Làm thế nào?.....

          - Với nhóm học sinh khá, các em phải tự tóm tắt, giải; không cần sự giúp đỡ của giáo viên.

          - Với nhóm học sinh giỏi, không những các em phải tự tóm tắt đề, tự giải mà sau đó còn phải hoàn thành thêm một nhiệm vụ là giải theo cách thứ hai (dùng tỷ số).

          - Sau khi hoàn thiện hai cách giải cần đưa thêm câu hỏi để phát huy khả năng học tập của học sinh khá, giỏi như sau: Khi nào các em giải bài toán này bằng phương pháp dùng tỉ số? (Khi hai giá trị của một đại lượng chia hết cho nhau).

Như vậy trong lúc đàm thoại giáo viên  có 3 loại câu hỏi :

          - Câu hỏi khó dùng cho học sinh khá giỏi.

          - Câu hỏi bình thường cho học sinh trung bình.

          - Câu hỏi dễ cho học sinh yếu.

- Sắp xếp câu hỏi theo hệ thống dẫn dắt cho học sinh được suy nghĩ từ cái đã biết đến cái chưa biết, từ cái cần tìm với cái đã có, từ những kiến thức cũ đến kiến thức mới làm cho học sinh có hướng trả lời theo hình thức tư duy. Câu hỏi phải có tác dụng đến mọi đối tượng học sinh, bài dễ thì học sinh cũng phải để ý tới, còn bài nâng cao kiến thức thì học sinh phải tích cực tham gia. Tuy nhiên, các dạng bài tập bổ sung cần đảm bảo yêu cầu sát với Chuẩn kiến thức, kĩ năng và phải vừa sức HS.

     đ) Phân hóa tiến hành khi luyện tập:

     Giáo viên có thể “phân hóa” theo nhiều cách, chẳng hạn:

     * Cho HS lần lượt làm các bài trong sách giáo khoa. Nhưng khi làm các bài tập giáo viên phải ấn định thời gian.

     Ví dụ: Bài tập về đổi đơn vị đo diện tích (SGK toán 5 trang 30)

Viết các số đo sau dưới dạng số đo có đơn vị là m2:

1a. 5ha ; 2km2

1b. 400dm2 ; 1500dm2 ; 70000cm2

1c. 26m217dm2 ; 90m2 5dm2 ; 35dm2

     Giáo viên yêu cầu cả lớp làm vào vở trong thời gian 5 phút

     Ở đây mục tiêu là HS phải làm được bài 1a; 1b.Bài 1c là bài khó. Như vậy theo chuẩn kiến thức cả lớp chỉ hoàn thành bài 1a và 1b. Nhưng đối với các em khá, giỏi chỉ mất 3 phút là đã hoàn thành xong 2 bài tập 1a và 1b. Lúc ấy giáo viên giao việc thêm cho các em: em nào làm xong làm tiếp cho thầy bài 1c. GV có thể dùng phiếu học tập đưa cho từng em hoặc viết sẵn vào bảng nhóm thay thế cho phiếu. Hết thời gian 5 phút GV cho học sinh dừng lại để sửa bài, sửa các bài theo chuẩn kiến thức kĩ năng trước sau đó sửa các bài nâng chuẩn.

     Như vậy là trong cùng một thời gian 5 phút các em khá giỏi làm được 3 phần bài, các em trung bình và yếu chỉ làm được 2 hoặc 1phần bài. GV cần đi sát giúp đỡ các HS yếu để các em có thể làm được 2 phần bài.

          - Để các em HS yếu và trung bình không bị mặc cảm, GV nên nói “ Em nào làm xong thì làm thêm bài tập thầy (cô) giao,…” chứ không nên nói “ Các em khá, giỏi thì làm thêm bài tập…”.

          - Trong lúc HS làm bài, giáo viên đi sát, đôn đốc, giúp đỡ các em học sinh yếu. Với học sinh khá, giỏi thì kiểm tra xem các em đã làm đúng chưa, nếu đúng rồi thì các em tự động chuyển sang bài khác.

          - Với cách làm này, bản thân giáo viên phải di chuyển liên tục, nắm chắc năng lực học tập của từng học sinh.

          * Cũng có thể cho cả lớp làm bài tập ở SGK (Với các bài tập theo chuẩn kiến thức kỹ năng), em nào làm xong thì làm thêm bài tập còn lại. Sau đó sửa chung bài theo chuẩn kiến thức kĩ năng còn các bài tập làm thêm cho học sinh nêu kết quả, giáo viên nhận xét, kết luận.

          Như vậy muốn trong một tiết dạy mà đảm bảo cả học sinh yếu, trung bình nắm được nội dung bài theo chuẩn kiến thức kĩ năng, học sinh khá, giỏi làm hết được các bài tập nâng chuẩn, bản thân giáo viên phải xác định đúng nội dung kiến thức trọng tâm cơ bản bài dạy; từ việc tìm hiểu, nắm được khả năng nhận thức của các đối tượng học sinh, mới tổ chức được các hoạt động dạy học phù hợp. Hoạt động nào tổ chức theo phân hóa giáo viên phải quy định về thời gian.

- Đối với HS tiếp thu chậm thì gợi ý kỹ cho các em làm được một hai bài trong sách của bài học trong ngày là thành công rồi.

+ Ví dụ: Khi hình thành quy tắc cộng hai số thập phân (ở ví dụ 1-SGK toán 5 trang 49),giáo viên có thể áp dụng dạy học phân hóa như sau:

 + Sau khi rút ra phép tính cộng hai số thập phân, giáo viên nêu vấn đề: Làm thế nào để thực hiện được phép cộng đó? học sinh có năng lực tốt hơn có thể đưa ra ý tưởng để thực hiện phép cộng, bên cạnh đó học sinh có năng lực không bằng bạn sẽ nhắc lại từ cách đổi đơn vị đo độ dài, cách thực hiện phép cộng hai số tự nhiên. Việc làm đó sẽ giúp học sinh cả lớp hòa chung vào công việc đó là tìm ra cách thực hiện phép cộng hai số thập phân.

 

e) Soạn giáo án

Giáo án cần thể hiện một cách sinh động mối quan hệ giữa mục tiêu, phương pháp, nội dung và điều kiện lớp học. Vì vậy, để xây dựng giáo án người giáo viên cần nắm chắc mục tiêu và nội dung dạy học theo qui định, ngoài ra cần chú ý đến trình độ học sinh của lớp. Giáo án có câu hỏi, bài tập rõ ràng (theo đối tượng phân hóa), chú ý việc phân bổ thời gian cho từng hoạt động chính.

f) Kiểm tra, đánh giá

          Nội dung bài kiểm tra kiến thức học sinh, giáo viên cũng phải định hướng có nội dung theo phân hóa.Ví dụ trong một đề kiểm tra có một hoặc hai câu giáo viên không cần phải tách rời nội dung bài tập. Với  một bài tập giáo viên đưa ra hai yêu cầu, trong đó yêu cầu một tất cả học sinh đều làm được, còn yêu cầu hai thì dành cho học sinh khá giỏi, học sinh có năng khiếu nhưng điều này cũng nhằm gợi tính tò mò, chịu suy nghĩ với mọi đối tượng học sinh. Đây cũng là cơ hội tạo điều kiện phát huy năng lực của bản thân từng học sinh. Từ đó giáo viên cũng có thể đánh giá kết quả của các em về mức độ tiến bộ từng thời điểm.

2.2 Đối với học sinh

Trong dạy học phân hóa bên cạnh những biện pháp của người giáo viên nêu trên thì việc phối hợp, hỗ trợ nhịp nhàng của học sinh không kém phần quan trọng góp phần thành công trong dạy - học. Vì thế học sinh cũng cần phải:

          - Tự tin trong học tập; có hứng thú, niềm tin, niềm vui trong học tập.

          - Có lòng nhiệt tình say mê trong học tập, có phương pháp học tập đúng đắn nhằm tạo động cơ học tập tốt.

          - Mạnh dạn trao đổi, phát biểu ý kiến, phải tích cực tìm tòi, khám phá được nội dung mới mặc dù chưa hoàn chỉnh.

          - Biết nói lại bằng ngôn ngữ của mình khi hiểu một nội dung học tập nào đó. Ví dụ như mô tả cách hiểu các mối quan hệ trong một bài toán, cách thực hiện một bài toán,..để có thể hiểu sâu sắc và ghi nhớ tốt hơn, đồng thời giúp giáo viên có cơ sở để đánh giá năng lực của mình phù hợp hơn.

- Biết tập trung vào nhiệm vụ của nhóm, bản thân cần làm.

- Chấp hành theo chỉ dẫn của giáo viên, phải nghiêm túc tham khảo tài liệu học tập theo định hướng của giáo viên.

PHẦN C:  KẾT LUẬN

Thực tế cho thấy sự thành công của việc dạy học phân hóa trong mỗi giờ học, bài học phụ thuộc vào nhiều vấn đề: Điều kiện cũng như năng lực, trình độ và nhận thức của mỗi giáo viên; khả năng học tập của mỗi học sinh; nội dung bài dạy,...Nhưng điều kiện quan trọng hơn cả là giáo viên - yếu tố con người trực tiếp tham gia sẽ tổ chức thực hiện thành công nếu có được sự chỉ đạo tốt và nhận thức đúng đắn.

 - Người giáo viên cần quan tâm đặc biệt tới việc rà soát đối tượng học sinh, việc soạn bài theo hướng đổi mới, giáo viên cần thiết kế bài giảng khoa học, sắp xếp hợp lí, cần tập trung vào trọng tâm, tránh nặng nề, quá tải. Chú trọng đến bồi dưỡng năng lực suy nghĩ, vận dụng sáng tạo kiến thức đã học, tránh thiên về ghi nhớ máy móc. Câu hỏi cần rõ ràng, cụ thể, có sức khái quát cao và có sự phân hóa cho từng nhóm đối tượng học sinh.

- Để giờ dạy hấp dẫn giáo viên cần sử dụng ngôn ngữ chuẩn xác, trong sáng, sinh động, ngắn gọn, dễ hiểu, tác phong thân thiện, gần gũi, bình đẳng, coi trọng việc khuyến khích, động viên học sinh học tập, tạo hứng thú thực sự cho các em. Chú ý đến việc dạy học sát đối tượng.

- Đề kiểm tra phải bám sát Chuẩn kiến thức, kĩ năng.Phải thể hiện rõ 4 mức độ. Đề kiểm tra cũng rất cần mang tính phân hoá năng lực học tập của học sinh.

Tóm lại: Để tổ chức dạy học phân hóa thành công, người giáo viên cần tạo mối quan hệ gần gũi giữa thầy và trò, giữa trò và trò để giúp học sinh cởi mở, tự tin hơn trong học tập. Đặc biệt, trong dạy học phân hóa cần tuân thủ quy trình 4 bước, gồm: Điều tra, khảo sát đối tượng học sinh trước khi giảng dạy; lập kế hoạch dạy học, soạn bài từ việc phân tích nhu cầu của học sinh; trong giờ dạy, giáo viên phải kết hợp nhiều phương pháp dạy học, lựa chọn những hình thức tổ chức dạy học phù hợp với mục tiêu bài học; kiểm tra, đánh giá sự tiến bộ của học sinh trong suốt quá trình giảng dạy.                                       

                                                              Vĩnh Trạch, ngày 16 tháng 10 năm 2018

                                                                                    Người thực hiện

 

 

 

                                  

 

PHÒNG GIÁO DỤC ĐÀO TẠO – TPBL

TRƯỜNG TIỂU HỌC TRẦN ĐẠI NGHĨA

 

CHUYÊN ĐỀ

TỔ CHỨC DẠY HỌC PHÂN HÓA        MÔN TOÁN 5

CHO LỚP CÓ NHIỀU ĐỐI TƯỢNG HỌC SINH

Người báo cáo: Lê Xuân Hùng

Đơn vị : Trường Tiểu học Trần Đại Nghĩa

Thời gian thực hiện: ngày 27/ 10 /2018

 

PHẦN A:  ĐẶT VẤN ĐỀ

 * LÍ DO CHỌN CHUYÊN ĐỀ

Như chúng ta đã biết giáo dục phổ thông nước ta đã và đang thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, từ chỗ quan tâm tới việc học sinh học được gì, đến chỗ quan tâm tới việc học sinh học được cái gì qua việc học. Trước bối cảnh đó việc dạy học và kiểm tra, đánh giá theo theo định hướng phát triển năng lực của người học là cần thiết.

 Quan điểm này đã được Sở Giáo dục và Đào tạo Bạc Liêu chỉ đạo toàn ngành tổ chức dạy học phân hóa theo năng lực học tập của học sinh từ năm học 2013 – 2014. Đặc biệt năm học 2018-2019 này Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Bạc Liêu tiếp tục chỉ đạo toàn ngành tổ chức dạy học phân hóa chia lớp theo năng lực và nhóm năng lực học tập của học sinh đối với tất cả các trường tiểu học trong tỉnh. Đây cũng là một vấn đề đang được dư luận xã hội đặc biệt quan tâm.

Từ thực tế giảng dạy chúng tôi thấy rằng trong giờ dạy của giáo viên sự sáng tạo trong việc đổi mới phương pháp dạy học phát huy tính tích cực, tự lực của học sinh chưa sâu. Dạy học vẫn còn nặng về truyền thụ kiến thức. Việc rèn luyện năng lực cho học sinh chưa được quan tâm sâu, chưa thật sự phát huy tính sáng tạo của học sinh; hoạt động kiểm tra, đánh giá chưa thực sự khách quan, chính xác, chưa chú trọng đánh giá quá trình sáng tạo của học sinh. Tất cả những điều đó dẫn tới học sinh học thụ động, nhàm chán hoặc lúng túng khi giải quyết các tình huống trong thực tiễn.

Với những lí do trên, chúng tôi thấy hình thức dạy học phân hóa có tính khả thi rất cao trong việc thực hiện tốt mục tiêu giáo dục của ngành. Qua kết quả hơn bốn năm thực hiện, chúng tôi cũng đã gặt hái không ít thành công.Và cũng chính vì vậy, hôm nay tổ chuyên môn chúng tôi xin mạnh dạn trình bày kinh nghiệm của mình về tổ chức dạy học phân hóa cho lớp có nhiều đối tượng học sinh.

 

PHẦN B: NỘI DUNG

I. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ

          1. Thuận lợi

- Nhà trường luôn tạo điều kiện thuận lợi về cơ sở vật chất cũng như tài liệu tham khảo, trang thiết bị phục vụ và đồ dùng học tập cho cả giáo viênhọc sinh.

- Giáo viên nhiệt tình, tận tâm với nghề, có tâm huyết dạy học phát huy năng lực học tập của học sinh.

- Là cơ hội để người giáo viên phát huy hơn nữa về năng lực chuyên môn của bản thân.

- Giữa học sinh luôn có sự cạnh tranh tích cực trong học tập, từ đó sẽ dễ dàng phát huy được năng lực, sở trường học tập của cá nhân.

- Phần đông cha mẹ học sinh có quan tâm đến việc học của con, luôn tạo điều kiện cho các em trong học tập.

          2. Khó khăn

- Mỗi khối chỉ có 1-2 lớp nên việc phân hóa theo lớp năng lực khó thực hiện, đặc biệt tại điểm ấp chỉ có 1 lớp nên trong lớp có nhiều đối tượng HS.

- Trình độ của học sinh trong lớp chưa đồng đều.

- Trong thời gian ngắn GV phải dạy ít nhất 3 trình độ nên chất lượng chưa cao, HS được luyện tập ít hơn.

- Giáo viên phải tốn nhiều thời gian cho sự chuẩn bị nội dung bài dạy.

          - Kế hoạch dạy học của giáo viên phải chi tiết cho từng nhóm đối tượng, vì thế giáo viên sẽ vất vả hơn khi lập kế hoạch dạy học. Đôi khi giáo viên còn lúng túng trong việc chuẩn bị kế hoạch bài dạy theo định hướng phân hóa.

          - Giáo viên còn lúng túng trong việc vận dụng phương pháp dạy học cho từng đối tượng học sinh. Nếu quan tâm nhiều đến nhóm học sinh trung bình, yếu thì không đủ thời gian định hướng cho các nhóm khá, giỏi phát huy năng lực của bản thân, vô tình làm cho các em nhàm chán trong học tập và ngược lại.

          - Thực tế trong cùng một lớp học, trình độ học sinh chưa thật cân bằng, nên việc ôn tập kiến thức cũ cho HS trung bình yếu và cung cấp kiến thức nâng cao cho HS khá, giỏi cũng như việc sử dụng biện pháp dạy học phân hóa của giáo viên cũng gặp nhiều khó khăn.

          - Một vài học sinh có xuất hiện những biểu lộ không tự tin vì thấy mình chưa bằng bạn.

II. NỘI DUNG DẠY PHÂN HÓA

          1. Lấy trình độ chung của học sinh trong lớp làm nền tảng

- Trong dạy học phân hóa, giáo viên phải biết lấy trình độ phát triển chung và điều kiện chung của học sinh trong lớp làm nền tảng hướng vào những yêu cầu cơ bản về chuẩn kiến thức kỹ năng để điều chỉnh nội dung dạy học cho phù hợp. Giáo viên lựa chọn nội dung và phương pháp dạy học phù hợp trình độ và điều kiện chung của lớp. Có thể lược bớt  những nội dung chưa sát thực, chưa phù hợp với yêu cầu cơ bản đặt ra hoặc có thể phải bổ sung những nội dung cần thiết để phát triển tư duy cho học sinh.

- Dạy học phân hóa đảm bảo thực hiện tốt mục tiêu dạy học, đồng thời khuyến khích phát triển tối đa khả năng của từng cá nhân học sinh. Xuất phát từ thực tiễn có sự khác nhau về trình độ nhận thức của học sinh trong cùng một nhóm đối tượng HS trên lớp.

- Dạy học phân hóa tổ chức được các hoạt động đa dạng và phong phú giúp học sinh lĩnh hội tri thức và hình thành kỹ năng, kỹ xảo bằng cách cho các em tham gia vào các hoạt động vừa sức của mình để tự tìm tòi khám phá… dưới sự hướng dẫn của giáo viên. Dạy học phân hóa  là cách tốt nhất để giáo viên tổ chức cho học sinh hoạt động nhằm phát triển khả năng tự học.

          2. Đối với học sinh trung bình, yếu

Trong dạy học phân hóa giáo viên cần sử dụng các biện pháp để đưa những học sinh đó có đủ khả năng đạt được những yêu cầu về chuẩn kiến thức kỹ năng.Đối với những học sinh này, cần phải hạ thấp yêu cầu so với học sinh khá, giỏi. Giáo viên cần kèm riêng từng cá nhân để các em có thể theo kịp trình độ chung của học sinh cả lớp.

Ví dụ: Khi yêu cầu học sinh yếu, kém trong lớp giải các bài toán có văn, nếu học sinh hạn chế về cách đặt lời giải thì giáo viên cần gợi ý trực tiếp với riêng cá nhân học sinh đó về cách đặt lời giải hoặc có thể thiết kế riêng phiếu bài tập có in sẵn câu lời giải, yêu cầu học sinh chỉ điền phép tính dưới lời giải.

          3. Đối với học sinh khá, giỏi

Trong dạy học phân hóa, một yêu cầu rất quan trọng đối với giáo viên là cần phải bổ sung những kiến thức nâng cao cho học sinh khá, giỏi bằng những dạng bài tập mang tính phát triển tư duy. Đối với những học sinh này, ngoài việc đạt được các yêu cầu về chuẩn kiến thức kỹ năng còn phải vận dụng những kiến thức đã học vào việc giải toán nâng cao. Các dạng bài tập bổ sung cần đảm bảo yêu cầu sát với chuẩn kiến thức kỹ năng và vừa sức học sinh.

III. HÌNH THỨC TỔ CHỨC DẠY HỌC PHÂN HÓA

          1. Phân hóa giờ học theo học lực

Căn cứ vào trình độ học lực có thực của người học để có những tác động sư phạm phù hợp với người học. Dựa trên trình độ giỏi khá, trung bình, yếu mà giáo viên giao cho học sinh những nhiệm vụ tương ứng.

2. Phân hóa giờ học theo động cơ, lợi ích học tập của học sinh

Với nhóm học sinh có nhu cầu tìm tòi, hiểu biết cao cần xác định nhiệm vụ học tập cao hơn và đưa thêm nhiều nội dung, tài liệu học tập cho học sinh tự học. Với nhóm học sinh có nhu cầu học tập không cao thì việc phân hóa dạy học phải chú ý đến nhiệm vụ, nội dung cơ bản và bổ sung những vấn đề thực tiễn giúp người học hào hứng học tập.

3. Phân hóa trong dạy học hợp tác theo nhóm

Chia học sinh theo nhóm cùng trình độ, không nên gọi tên nhóm là: giỏi-khá-  trung bình- yếu, tránh sự mặc cảm trong học sinh (có thể đặt tên nhóm theo màu sắc hoặc loài hoa…). Với nhóm học sinh khá giỏi, nên giao cho các em nhiệm vụ khó khăn hơn, đòi hỏi tư duy, tính tò mò, phát hiện; với nhóm học sinh trung bình yếu thì cần có sự giúp đỡ, chỉ bảo cụ thể của giáo viên và chỉ nên giao cho các em những nhiệm vụ cụ thể mang tính trực quan, ít đòi hỏi tư duy, kèm theo là những câu hỏi gợi mở.

 

IV. BIỆN PHÁP TỔ CHỨC DẠY HỌC PHÂN HÓA

          1. Biện pháp chung

- Đổi mới soạn giảng, tích cực sử dụng thiết bị dạy học, ứng dụng công nghệ thông tin hợp lí.

- Phân nhóm học sinh cho phù hợp. Dạy học phải có phân hóa.

- Dạy học thực hành, dạy học gắn với thực tế, liên hệ với các môn học khác, với kiến thức cuộc sống, kiến thức xã hội.

- Xây dựng giờ học thân thiện, học sinh tích cực, giáo viên có kiến thức vững vàng, có kĩ năng sư phạm, có tác phong, cử chỉ, ngôn ngữ thân thiện, quan tâm giúp đỡ học sinh trong giờ học.

- Khuyến khích học sinh tích cực học tập, hỏi bài, chấp nhận ý kiến trái chiều của học sinh sau đó tìm hướng giải quyết.

- Đổi mới kiểm tra, nhận xét, đánh giá học sinh theo nguyên tắc “ Không chê - Khẳng định - Hỏi lại - Khuyến nghị”

- Hướng dẫn học sinh ôn tập kiến thức cũ, cách học công thức, học kiến thức mới thoát li cách học máy móc, học vẹt.

- Thường xuyên gặp gỡ phụ huynh để trao đổi, thống nhất về biện pháp dạy học cho con em họ.

2. Biện pháp cụ thể

2.1 Đối với giáo viên

a)Tìm hiểu khả năng nhận thức của học sinh

  Sự hiểu biết của giáo viên về từng học sinh là một điều kiện cần để đảm bảo hiệu quả của quá trình dạy học phân hóa. Vì vậy,giáo viên cần hiểu rõ về học sinh mình, đặc biệt là về năng lực học tập, nhu cầu và hứng thú học tập của từng học sinh.  Sau thời gian nhận lớp (Khoảng sau 2 tuần ôn tập đầu năm), khi đã hoàn thành những điều cần biết về học sinh như lí lịch, hoàn cảnh,... GV cần tiến hành làm các công việc sau:

- Tham khảo kết quả năm học trước của học sinh.

- Quan sát biểu hiện của từng cá nhân trong quá trình học tập, ghi nhận vào sổ tay chủ nhiệm.

- Tự ra một đề cho học sinh làm bài kiểm tra 2 môn Tiếng Việt, Toán theo bốn mức độ nhằm khảo sát học lực, phát hiện năng khiếu của học sinh.

         b) Phân loại đối tượng học sinh

- Dựa trên kết quả thông tin thu thập, GV chia học sinh thành các nhóm đối tượng như:

 + Nhóm học sinh có năng lực trung bình, yếu:Các em có khả năng nhận thức chậm; khả năng hoàn thành nhiệm vụ môn học còn khó khăn do hổng kiến thức hoặc nghỉ hè quên kiến thức cơ bản.

 + Nhóm học sinhnăng lực khá, giỏi: Các em có khả năng nhận thức nhanh; có kiến thức, kĩ năng, tư duy vượt trội so với học sinh khác; có khả năng hoàn thành nhiệm vụ môn học một cách dễ dàng và có khả năng tự học cao, biết sáng tạo trong học tập.

 + Nhóm học sinh có năng khiếu Toán.

c) Soạn câu hỏi và bài tập phân hóa

          Việc soạn và sử dụng câu hỏi đạt hiệu quả cho từng tiết học và tạo được một thách thức mặt trí tuệ của học sinh, cũng có thể giúp học sinh đạt được thành công trong học tập. Xây dựng được câu hỏi và bài tập càng nhiều càng tốt, sau đó lựa chọn câu hỏi và bài tập phù hợp để đưa vào bài giảng phù hợp với từng đối tượng học sinh.

- Tăng số lượng và bài tập yêu cầu sự nỗ lực tư duy đối với HS khá, giỏi. Tăng câu hỏi nhỏ cho học sinh yếu. Các câu hỏi và bài tập được nêu dưới những hình thức khác nhau, tránh lặp đi lặp lại làm cho học sinh nhàm chán, không hứng thú học, không thích suy nghĩ.

d) Phân hóa lúc tiến hành bài mới

          Thường dùng khi cần có sự phân hóa về mức độ khó, dễ của nội dung bài học, bài tập cho từng loại đối tượng.

          Ta thường chia thành 4 nhóm: Giỏi, Khá, TB, yếu.

Ví dụ: Khi dạy bài : “ Ôn tập và bổ sung về giải Toán-SGK toán 5 trang 18”. Thực tế dạng toán này là hai dạng toán học sinh đã được học ở lớp 3: Bài toán rút về đơn vị và bài toán gấp một số lên nhiều lần (Giải theo cách thứ nhất) và bài toán về tỷ số ở lớp 4 ( giải theo cách thứ hai).

          Giáo viên thực hiện như sau: Cho học sinh đọc đề, cho cả lớp tự tóm tắt đề.

          - Với nhóm yếu và trung bình GV yêu cầu cụ thể hơn: Đọc đề hai lần – xác định cái đã cho, cái phải tìm. Sau đó tôi hướng dẫn học sinh suy nghĩ :Ô tô đi trong mấy giờ và đi được bao nhiêu km? Bài toán hỏi gì?Yêu cầu tóm tắt đề toán.

          - Nhìn vào tóm tắt, để tìm  4 giờ đi được bao nhiêu ki-lô-mét em phải biết gì? Làm thế nào?.....

          - Với nhóm học sinh khá, các em phải tự tóm tắt, giải; không cần sự giúp đỡ của giáo viên.

          - Với nhóm học sinh giỏi, không những các em phải tự tóm tắt đề, tự giải mà sau đó còn phải hoàn thành thêm một nhiệm vụ là giải theo cách thứ hai (dùng tỷ số).

          - Sau khi hoàn thiện hai cách giải cần đưa thêm câu hỏi để phát huy khả năng học tập của học sinh khá, giỏi như sau: Khi nào các em giải bài toán này bằng phương pháp dùng tỉ số? (Khi hai giá trị của một đại lượng chia hết cho nhau).

Như vậy trong lúc đàm thoại giáo viên  có 3 loại câu hỏi :

          - Câu hỏi khó dùng cho học sinh khá giỏi.

          - Câu hỏi bình thường cho học sinh trung bình.

          - Câu hỏi dễ cho học sinh yếu.

- Sắp xếp câu hỏi theo hệ thống dẫn dắt cho học sinh được suy nghĩ từ cái đã biết đến cái chưa biết, từ cái cần tìm với cái đã có, từ những kiến thức cũ đến kiến thức mới làm cho học sinh có hướng trả lời theo hình thức tư duy. Câu hỏi phải có tác dụng đến mọi đối tượng học sinh, bài dễ thì học sinh cũng phải để ý tới, còn bài nâng cao kiến thức thì học sinh phải tích cực tham gia. Tuy nhiên, các dạng bài tập bổ sung cần đảm bảo yêu cầu sát với Chuẩn kiến thức, kĩ năng và phải vừa sức HS.

     đ) Phân hóa tiến hành khi luyện tập:

     Giáo viên có thể “phân hóa” theo nhiều cách, chẳng hạn:

     * Cho HS lần lượt làm các bài trong sách giáo khoa. Nhưng khi làm các bài tập giáo viên phải ấn định thời gian.

     Ví dụ: Bài tập về đổi đơn vị đo diện tích (SGK toán 5 trang 30)

Viết các số đo sau dưới dạng số đo có đơn vị là m2:

1a. 5ha ; 2km2

1b. 400dm2 ; 1500dm2 ; 70000cm2

1c. 26m217dm2 ; 90m2 5dm2 ; 35dm2

     Giáo viên yêu cầu cả lớp làm vào vở trong thời gian 5 phút

     Ở đây mục tiêu là HS phải làm được bài 1a; 1b.Bài 1c là bài khó. Như vậy theo chuẩn kiến thức cả lớp chỉ hoàn thành bài 1a và 1b. Nhưng đối với các em khá, giỏi chỉ mất 3 phút là đã hoàn thành xong 2 bài tập 1a và 1b. Lúc ấy giáo viên giao việc thêm cho các em: em nào làm xong làm tiếp cho thầy bài 1c. GV có thể dùng phiếu học tập đưa cho từng em hoặc viết sẵn vào bảng nhóm thay thế cho phiếu. Hết thời gian 5 phút GV cho học sinh dừng lại để sửa bài, sửa các bài theo chuẩn kiến thức kĩ năng trước sau đó sửa các bài nâng chuẩn.

     Như vậy là trong cùng một thời gian 5 phút các em khá giỏi làm được 3 phần bài, các em trung bình và yếu chỉ làm được 2 hoặc 1phần bài. GV cần đi sát giúp đỡ các HS yếu để các em có thể làm được 2 phần bài.

          - Để các em HS yếu và trung bình không bị mặc cảm, GV nên nói “ Em nào làm xong thì làm thêm bài tập thầy (cô) giao,…” chứ không nên nói “ Các em khá, giỏi thì làm thêm bài tập…”.

          - Trong lúc HS làm bài, giáo viên đi sát, đôn đốc, giúp đỡ các em học sinh yếu. Với học sinh khá, giỏi thì kiểm tra xem các em đã làm đúng chưa, nếu đúng rồi thì các em tự động chuyển sang bài khác.

          - Với cách làm này, bản thân giáo viên phải di chuyển liên tục, nắm chắc năng lực học tập của từng học sinh.

          * Cũng có thể cho cả lớp làm bài tập ở SGK (Với các bài tập theo chuẩn kiến thức kỹ năng), em nào làm xong thì làm thêm bài tập còn lại. Sau đó sửa chung bài theo chuẩn kiến thức kĩ năng còn các bài tập làm thêm cho học sinh nêu kết quả, giáo viên nhận xét, kết luận.

          Như vậy muốn trong một tiết dạy mà đảm bảo cả học sinh yếu, trung bình nắm được nội dung bài theo chuẩn kiến thức kĩ năng, học sinh khá, giỏi làm hết được các bài tập nâng chuẩn, bản thân giáo viên phải xác định đúng nội dung kiến thức trọng tâm cơ bản bài dạy; từ việc tìm hiểu, nắm được khả năng nhận thức của các đối tượng học sinh, mới tổ chức được các hoạt động dạy học phù hợp. Hoạt động nào tổ chức theo phân hóa giáo viên phải quy định về thời gian.

- Đối với HS tiếp thu chậm thì gợi ý kỹ cho các em làm được một hai bài trong sách của bài học trong ngày là thành công rồi.

+ Ví dụ: Khi hình thành quy tắc cộng hai số thập phân (ở ví dụ 1-SGK toán 5 trang 49),giáo viên có thể áp dụng dạy học phân hóa như sau:

 + Sau khi rút ra phép tính cộng hai số thập phân, giáo viên nêu vấn đề: Làm thế nào để thực hiện được phép cộng đó? học sinh có năng lực tốt hơn có thể đưa ra ý tưởng để thực hiện phép cộng, bên cạnh đó học sinh có năng lực không bằng bạn sẽ nhắc lại từ cách đổi đơn vị đo độ dài, cách thực hiện phép cộng hai số tự nhiên. Việc làm đó sẽ giúp học sinh cả lớp hòa chung vào công việc đó là tìm ra cách thực hiện phép cộng hai số thập phân.

 

e) Soạn giáo án

Giáo án cần thể hiện một cách sinh động mối quan hệ giữa mục tiêu, phương pháp, nội dung và điều kiện lớp học. Vì vậy, để xây dựng giáo án người giáo viên cần nắm chắc mục tiêu và nội dung dạy học theo qui định, ngoài ra cần chú ý đến trình độ học sinh của lớp. Giáo án có câu hỏi, bài tập rõ ràng (theo đối tượng phân hóa), chú ý việc phân bổ thời gian cho từng hoạt động chính.

f) Kiểm tra, đánh giá

          Nội dung bài kiểm tra kiến thức học sinh, giáo viên cũng phải định hướng có nội dung theo phân hóa.Ví dụ trong một đề kiểm tra có một hoặc hai câu giáo viên không cần phải tách rời nội dung bài tập. Với  một bài tập giáo viên đưa ra hai yêu cầu, trong đó yêu cầu một tất cả học sinh đều làm được, còn yêu cầu hai thì dành cho học sinh khá giỏi, học sinh có năng khiếu nhưng điều này cũng nhằm gợi tính tò mò, chịu suy nghĩ với mọi đối tượng học sinh. Đây cũng là cơ hội tạo điều kiện phát huy năng lực của bản thân từng học sinh. Từ đó giáo viên cũng có thể đánh giá kết quả của các em về mức độ tiến bộ từng thời điểm.

2.2 Đối với học sinh

Trong dạy học phân hóa bên cạnh những biện pháp của người giáo viên nêu trên thì việc phối hợp, hỗ trợ nhịp nhàng của học sinh không kém phần quan trọng góp phần thành công trong dạy - học. Vì thế học sinh cũng cần phải:

          - Tự tin trong học tập; có hứng thú, niềm tin, niềm vui trong học tập.

          - Có lòng nhiệt tình say mê trong học tập, có phương pháp học tập đúng đắn nhằm tạo động cơ học tập tốt.

          - Mạnh dạn trao đổi, phát biểu ý kiến, phải tích cực tìm tòi, khám phá được nội dung mới mặc dù chưa hoàn chỉnh.

          - Biết nói lại bằng ngôn ngữ của mình khi hiểu một nội dung học tập nào đó. Ví dụ như mô tả cách hiểu các mối quan hệ trong một bài toán, cách thực hiện một bài toán,..để có thể hiểu sâu sắc và ghi nhớ tốt hơn, đồng thời giúp giáo viên có cơ sở để đánh giá năng lực của mình phù hợp hơn.

- Biết tập trung vào nhiệm vụ của nhóm, bản thân cần làm.

- Chấp hành theo chỉ dẫn của giáo viên, phải nghiêm túc tham khảo tài liệu học tập theo định hướng của giáo viên.

PHẦN C:  KẾT LUẬN

Thực tế cho thấy sự thành công của việc dạy học phân hóa trong mỗi giờ học, bài học phụ thuộc vào nhiều vấn đề: Điều kiện cũng như năng lực, trình độ và nhận thức của mỗi giáo viên; khả năng học tập của mỗi học sinh; nội dung bài dạy,...Nhưng điều kiện quan trọng hơn cả là giáo viên - yếu tố con người trực tiếp tham gia sẽ tổ chức thực hiện thành công nếu có được sự chỉ đạo tốt và nhận thức đúng đắn.

 - Người giáo viên cần quan tâm đặc biệt tới việc rà soát đối tượng học sinh, việc soạn bài theo hướng đổi mới, giáo viên cần thiết kế bài giảng khoa học, sắp xếp hợp lí, cần tập trung vào trọng tâm, tránh nặng nề, quá tải. Chú trọng đến bồi dưỡng năng lực suy nghĩ, vận dụng sáng tạo kiến thức đã học, tránh thiên về ghi nhớ máy móc. Câu hỏi cần rõ ràng, cụ thể, có sức khái quát cao và có sự phân hóa cho từng nhóm đối tượng học sinh.

- Để giờ dạy hấp dẫn giáo viên cần sử dụng ngôn ngữ chuẩn xác, trong sáng, sinh động, ngắn gọn, dễ hiểu, tác phong thân thiện, gần gũi, bình đẳng, coi trọng việc khuyến khích, động viên học sinh học tập, tạo hứng thú thực sự cho các em. Chú ý đến việc dạy học sát đối tượng.

- Đề kiểm tra phải bám sát Chuẩn kiến thức, kĩ năng.Phải thể hiện rõ 4 mức độ. Đề kiểm tra cũng rất cần mang tính phân hoá năng lực học tập của học sinh.

Tóm lại: Để tổ chức dạy học phân hóa thành công, người giáo viên cần tạo mối quan hệ gần gũi giữa thầy và trò, giữa trò và trò để giúp học sinh cởi mở, tự tin hơn trong học tập. Đặc biệt, trong dạy học phân hóa cần tuân thủ quy trình 4 bước, gồm: Điều tra, khảo sát đối tượng học sinh trước khi giảng dạy; lập kế hoạch dạy học, soạn bài từ việc phân tích nhu cầu của học sinh; trong giờ dạy, giáo viên phải kết hợp nhiều phương pháp dạy học, lựa chọn những hình thức tổ chức dạy học phù hợp với mục tiêu bài học; kiểm tra, đánh giá sự tiến bộ của học sinh trong suốt quá trình giảng dạy.                                       

                                                              Vĩnh Trạch, ngày 16 tháng 10 năm 2018

                                                                                    Người thực hiện